Lịch sử Đoàn TNCS Hồ Chí Minh tỉnh BD

Lịch sử Đoàn TNCS Hồ Chi Minh tỉnh Bình Dương (Kỳ 3)

 
Chương II
HOẠT ĐỘNG CỦA ĐOÀN THANH NIÊN CỨU QUỐC VÀ PHONG TRÀO THANH THIẾU NIÊN TỈNH THỦ DẦU MỘT TRONG THỜI KỲ KHÁNG CHIẾN CHỐNG PHÁP (1945 - 1954)


I. THANH, THIẾU NIÊN THỦ DẦU MỘT THAM GIA XÂY DỰNG VÀ BẢO VỆ CHÍNH QUYỀN CÁCH MẠNG (1945 - 1946)

     1. Thanh niên tham gia xây dựng chính quyền - chuẩn bị lực lượng

Cuộc khởi nghĩa giành chính quyền tại Thủ Dầu Một ngày 25/8/1945 đã hoàn toàn thắng lợi. Đảng bộ và nhân dân toàn tỉnh bắt tay ngay vào công cuộc ổn định trật tự trị an, xây dựng và củng cố chính quyền cách mạng.

Trong cuộc mít tinh trọng thể tổ chức trước công sở Phú Cường mừng ngày đất nước hoàn toàn độc lập (ngày 2/9/1945), danh sách Uỷ ban nhân dân lâm thời cấp tỉnh được công bố, bao gồm một số trí thức, nhân sĩ yêu nước có uy tín với nhân dân và những người cộng sản. Uỷ ban nhân dân tỉnh xúc tiến chỉ đạo việc xây dựng hệ thống chính quyền cách mạng các cấp, nhằm nhanh chóng ổn định trật tự và chăm lo xây dựng cuộc sống mới cho nhân dân. Với khí thế cách mạng sôi nổi, chỉ trong một thời gian ngắn, hệ thống chính quyền cách mạng từ tỉnh đến tổng (huyện ), làng (xã) được xây dựng và củng cố. Ở cấp tổng, Uỷ ban nhân dân được chỉ định hoàn toàn mới hoặc có nơi ta sử dụng lại các cai tổng cũ, nhưng cử thêm cán bộ hoạt động trong phong trào thanh niên tiền phong làm kiểm soát viên của Uỷ ban nhân dân tổng. Uỷ ban nhân dân cấp xã được nhân dân địa phương bầu công khai. Tỉnh uỷ lâm thời cũng đặc biệt chú trọng việc củng cố tổ chức Mặt trận Việt Minh và các đoàn thể quần chúng. Tỉnh bộ Việt Minh do đồng chí Nguyễn Đức Nhàn làm chủ nhiệm. Tổ chức Việt Minh ở cấp tổng, cấp xã nhanh chóng được xây dựng, làm chỗ dựa cho chính quyền nhân dân. Dưới sự lãnh đạo của Tỉnh uỷ và Mặt trận Việt Minh, toàn dân hăng hái tham gia các đoàn thể quần chúng , tích cực thực hiện các phong trào cách mạng [1] nhằm xây dựng và bảo vệ chính quyền nhân dân vừa được khai sinh. Nổi bật nhất là hoạt động của các tổ chức Đoàn Thanh niên tiền phong, Hội Phụ nữ và tổ chức Công đoàn. Thanh niên trở thành lực lượng nòng cốt, đi đầu trong các phong trào tăng gia sản xuất cứu đói, ủng hộ quỹ độc lập, xóa nạn mù chữ, trong các đội vũ trang tự vệ làm nhiệm vụ giữ gìn trật tự an ninh đường phố, xóm làng.
Lúc bấy giờ, tại Sài Gòn, quân Anh thay mặt lực lượng đồng minh làm nhiệm vụ giải giới quân Nhật từ vĩ tuyến 16 vào Nam có nhiều dấu hiệu chống đối chính quyền cách mạng của ta, công khai giúp đỡ, trang bị vũ khí cho binh lính Pháp vừa được họ giải thoát từ các nhà tù của Nhật. Trước tình hình đó, Uỷ ban nhân dân Nam bộ một mặt cố kìm chế, tránh khiêu khích, một mặt chỉ đạo cho các địa phương tích cực chuẩn bị lực lượng, sẵn sàng đối phó với những tình huống xấu nhất có thể xảy ra nhằm bảo vệ chính quyền, bảo vệ nền độc lập vừa giành được sau hơn 80 năm nô lệ dưới ách thống trị của chủ nghĩa thực dân. Được sự chỉ đạo của Uỷ ban nhân dân Nam bộ, Cấp uỷ và Uỷ ban lâm thời tỉnh Thủ Dầu Một đặc biệt quan tâm xây dựng lực lượng công an, quân đội. Do thiếu sự chỉ đạo thống nhất, đồng thời, xuất phát từ lòng yêu nước và quyết tâm bảo vệ thành quả cách mạng, ở Thủ Dầu Một (cũng như nhiều địa phương khác ở Nam bộ), các địa phương trong tỉnh đều khẩn trương xây dựng lực lượng võ trang và bán võ trang, với nhiều tên gọi không thống nhất. Thanh niên trong tỉnh hăng hái gia nhập các lực lượng : bộ đội cao su, bộ đội Bến Cát, bộ đội Bắc Hải, bộ đội thiểu số... Ở tỉnh, có đội xung phong Đề Thám và lực lượng dân quân tỉnh do đồng chí Kiều Đắc Thắng chỉ huy [2]. Về lực lượng công an, ta có Ty liêm phóng, sau đổi thành Quốc gia tự vệ cuộc (cấp tỉnh và các cấp địa phương), đến năm 1946, đổi tên thành Ty Công an. Lúc bấy giờ, lực lượng vũ trang ta hầu như hoàn toàn dựa vào dân mà tồn tại. Trang bị chủ yếu là vũ khí thô sơ như tầm vông vạt nhọn, dao mác, cung tên.... và một số súng ống, đạn dược do các đơn vị tự tổ chức lấy được từ tay Nhật, hoặc mua của quân Nhật bằng tiền hoặc bằng lương thực, thực phẩm...

Chính quyền cách mạng còn non trẻ, lực lượng vũ trang nhỏ, yếu, trang bị thô sơ, nhưng lòng yêu nước và ý chí bảo vệ độc lập, tự do là thứ vũ khí tinh thần mạnh nhất giúp toàn dân, toàn quân Thủ Dầu Một dưới sự lãnh đạo của Đảng, kiên quyết cùng cả nước bước vào cuộc chiến không cân sức với kẻ thù xâm lược.

2. Chi viện cho mặt trận Sài Gòn - Gia Định

Đêm 22 rạng ngày 23/ 9/ 1945, được sự hỗ trợ của lực lượng đồng minh Anh, một số đơn vị quân đội Pháp vừa được xây dựng lại nổ súng tấn công trụ sở Uỷ ban nhân dân Nam bộ và một số công sở, cứ điểm quan trọng tại Sài Gòn, mở đầu cuộc xâm lược nước ta lần thứ hai. Sáng ngày 23/ 9, Xứ uỷ, Uỷ ban nhân dân Nam bộ và đại diện của Tổng bộ Việt Minh họp, quyết định thành lập Uỷ ban kháng chiến Nam bộ, do ông Trần Văn Giàu làm Chủ tịch [3] . Ngay sau đó, Uỷ ban kháng chiến ra Lời hiệu triệu, kêu gọi toàn dân đoàn kết kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược.

Thực hiện chỉ thị của Xứ uỷ và UBKC Nam bộ, Tỉnh uỷ Thủ Dầu Một kêu gọi nhân dân sẵn sàng chiến đấu chống quân cướp nước, chuẩn bị thực lực về mọi mặt để chi viện cho Mặt trận Sài Gòn - Gia Định, đồng thời lập phòng tuyến chiến đấu chống giặc ở các khu vực xung quanh tỉnh lỵ. Hàng trăm thanh niên Thủ Dầu Một đáp lời kêu gọi của Tổ quốc, tiếp tục tình nguyện gia nhập các đơn vị chiến đấu, ngày đêm hăng hái luyện tập kỹ thuật quân sự và tích cực tìm nhiều cách để mua hoặc cướp súng của Nhật, tự vũ trang cho đơn vị. Để tăng cường công tác giữ gìn trật tự trị an và bảo vệ chính quyền, Tỉnh uỷ tổ chức tuyển chọn một số thanh niên hăng hái, tích cực nhất, xây dựng thành đội trinh thám (do anh Nguyễn Văn Tri phụ trách), làm nhiệm vụ theo dõi, bắt giữ những tên Việt gian phản quốc, cấu kết với đế quốc, phá hoại chính quyền cách mạng. Đội trinh thám đã bắt được 2 tên Trốt-xkít và một số tên phòng nhì của Pháp, góp phần giữ vững an ninh chính trị trong những ngày ta chưa rút vào chiến khu.

Ở Sài Gòn, quân dân ta kiên quyết chiến đấu, hình thành các mặt trận vành đai, vây chặt địch trong nội ô thành phố. Nhân dân Thủ Dầu Một cùng nhân dân cả nước tích cực chi viện sức người, sức của cho tiền tuyến. Đội thanh niên trinh thám Thủ Dầu Một chuyển sang phụ trách việc tiếp tế lương thực, vũ khí thô sơ và thay quân cho mặt trận. Thanh niên dân tộc thiểu số học ở trường tiểu học thị xã Thủ Dầu Một ngày đêm tự tạo các loại vũ khí thô sơ (ná, tên tẩm độc) để kịp gởi ra chiến trường. Trong các trận chiến oanh liệt của ta ở Cầu Thị Nghè, Cầu Bông (Sài Gòn) có mặt các lực lượng vũ trang Thủ Dầu Một, đặc biệt là có cả đội vũ trang của những thanh niên dân tộc Xtiêng với ná và tên tẩm độc, chỉ cần sướt da, chảy máu là giết được giặc, làm cho chúng vô cùng khiếp sợ. Khi giặc Pháp từ nội ô Sài Gòn cố gắng mở rộng phạm vi lấn chiếm, ở phía bắc và đông bắc Sài Gòn, ta lập phòng tuyến chặn địch tại cầu Bến Phân (Hốc Môn). Các xã thuộc huyện Lái Thiêu nằm ven sông Sài Gòn, nhất là xã An Sơn, trở thành hậu phương trực tiếp của mặt trận này. Bến Bình Nhang (An Sơn) thường xuyên tiếp nhận các đoàn ghe vận chuyển lương thực, thực phẩm từ Miền Trung và Miền Tây Nam bộ về cập bến với đầy ắp hàng hóa. Lương thực, thực phẩm được tạm bảo quản, sau đó phân phối chi viện cho chiến sĩ đang làm nhiệm vụ tại mặt trận Cầu Bến Phân; một phần cung cấp cho các đơn vị trong tỉnh đang trên đường ra mặt trận, tạm dừng chân ở An Sơn, hoặc để cung cấp cho các đơn vị từ mặt trận về bồi dưỡng, củng cố lực lượng tại đây. Nhân dân An Sơn , trong đó có nhiều nữ thanh niên, tích cực tham gia lực lượng tiếp tế hậu cần cho bộ đội, chiến sĩ. Khi phòng tuyến Cầu Bến Phân bị phá vỡ, xã An Sơn trở thành chiến khu đầu tiên của tỉnh Thủ Dầu Một. Nhân dân An Sơn đã đem hết sức mình phục vụ cho các cơ quan, đơn vị tạm dừng chân ở đây. Thanh niên nam, nữ hăng hái gia nhập lực lượng tự vệ chiến đấu, canh gác, tra xét người lạ mặt, bảo vệ chiến khu. Trong những ngày này, trung đội nữ tự vệ An Sơn, một trong những đội dân quân tự vệ nữ đầu tiên của tỉnh đã ra đời. Ngoài ra, nữ thanh niên còn là lực lượng tích cực cùng các mẹ, các chị làm công tác nuôi quân.

Trong những ngày này, thanh niên Thủ Dầu Một còn cùng toàn dân thể hiện cao nhất lòng yêu nước, ý chí bảo vệ độc lập dân tộc với những cử chỉ cảm động: nhiều chị em nữ đem cả vòng vàng, nhẫn cưới hoặc những kỷ vật thiêng liêng nhất của gia đình ra ủng hộ “Tuần lễ vàng”, rồi tham gia phong trào “bánh ổ cho tiền tuyến”, quyên góp đồ đồng thau cho xưởng quân giới làm vũ khí...

Sự chi viện sức người, sức của của nhân dân cả nước, trong đó có thanh niên và nhân dân Thủ Dầu Một, đã góp phần quan trọng trong cuộc chiến đấu giam chân địch ở Sài Gòn - Gia Định trong những ngày đầu kháng chiến. Qua đó, tinh thần đoàn kết chiến đấu và quyết tâm bảo vệ độc lập dân tộc được khơi dậy và phát huy đến đỉnh cao, trở thành sức mạnh tinh thần to lớn bảo đảm thắng lợi cho cuộc kháng chiến lâu dài và gian khổ sau này.
 
3. Chiến đấu chống Pháp tại tỉnh nhà, bảo vệ vững chắc chính quyền dân chủ nhân dân

Chiếm được Sài Gòn, thực dân Pháp bắt đầu tiến đánh các tỉnh xung quanh. Ngày 25/ 10/ 1945, quân Pháp tấn công Thủ Dầu Một bằng 3 mũi : mũi thứ nhất từ Biên Hòa qua Tân Ba, Tân Khánh tiến về thị xã Thủ Dầu Một; mũi thứ hai từ Thủ Đức qua Gò Dưa, chiếm Lái Thiêu rồi tiến về thị xã Thủ Dầu Một theo quốc lộ 13; mũi thứ ba từ Gò Vấp lên cầu Bến Phân, qua Lái Thiêu, hợp với cánh quân thứ hai tiến chiếm Thủ Dầu Một. Quân ta kiên cường chiến đấu chặn đứng đường tiến quân của giặc ở mũi thứ hai và mũi thứ ba. Nhưng do lực lượng ta ít, không bố trí lực lượng án ngữ trên đường Tân Ba - Tân Khánh, đến 9 giờ sáng ngày 25/10, toàn bộ các cơ quan hành chánh ở nội ô thị xã Thủ Dầu Một đã bị thực dân Pháp chiếm đóng. UBHC và các cơ quan tỉnh rút về vùng nông thôn xung quanh thị xã để bảo toàn lực lượng và tổ chức chiến đấu. Lực lượng vũ trang được phân công bám vùng ven thị xã để diệt địch, trừ gian.

Những ngày sau đó, thực dân Pháp ra sức đóng thêm đồn bót trong nội ô thị xã và một số điểm ở ngoại ô. Tuy vậy, ngay trong nội ô, nhiều nơi chúng cũng chỉ kiểm soát được ban ngày, còn ban đêm vẫn do chính quyền cách mạng xã và lực lượng vũ trang ta kiểm soát. Ở Phú Cường, nhân dân còn họp chợ tại khu vực Cây Sò Đo (ấp Lò Chén), có lực lượng thanh niên vũ trang canh gác, bảo vệ bên ngoài cho đồng bào mua bán. Để xây dựng lại bộ máy cai trị, quân Pháp ra sức chiêu dụ các viên chức cũ quay về làm việc cho chúng, nhưng phần lớn đồng bào, nhất là nam nữ thanh niên đã tản cư ra vùng nông thôn, thực hiện bất hợp tác với giặc theo truyền đơn kêu gọi của Uỷ ban nhân dân tỉnh trước khi Pháp chiếm đóng thị xã, chỉ có một số tên lưu manh bị chúng dùng tiền mua chuộc, trở thành chỉ điểm cho giặc trong những cuộc hành quân càn quét, bắt bớ đồng bào và lực lượng cách mạng. Trong tháng đầu tiên chiếm đóng tỉnh lỵ, giặc Pháp đi đến đâu cũng bị nhân dân ta cô lập, đường phố đầy chướng ngại vật (tủ, giường, bàn, ghế được nhân dân quăng ra đường, cây cối được ngã xuống... để cản trở lưu thông của địch), chợ Thủ Dầu Một không họp, trường học, phố xá đóng cửa, đêm thì bị lực lượng vũ trang ta đột nhập thị xã, bắn phá đồn bót, ngày thì bị các đội tự vệ địa phương phục kích, bắn tỉa. Trong thời gian này, anh em thanh niên trong đội trinh thám (do Đinh Quang Kỳ chỉ huy) và đội cảm tử (do Nguyễn Văn Lộng chỉ huy) là lực lượng hoạt động mạnh nhất, đã diệt được nhiều tên chỉ điểm, tay sai cho giặc Pháp.

Những ngày này, do tình hình chiến sự phức tạp, các đoàn thanh niên tiền phong không hoạt động được như cũ. Đoàn viên, một số ít đi tản cư, một số nằm êm chờ thời, còn phần lớn các đoàn viên tích cực tiếp tục ủng hộ Việt Minh, bám cán bộ, đảng viên và lực lượng vũ trang để được bố trí công tác mới. Các anh chị hăng hái tham gia kháng chiến với các nhiệm vụ mới được cách mạng phân công : bảo vệ, giao liên, du kích, cứu thương, trinh sát, tham gia vệ quốc đoàn hoặc đội văn nghệ...

Đến cuối tháng 12/ 1945, thực dân Pháp đã chiếm đóng tất cả các huyện lỵ và các đồn điền cao su trong tỉnh. Toàn Đảng, toàn quân, toàn dân Thủ Dầu Một bước vào cuộc kháng chiến trường kỳ chống thực dân Pháp xâm lược.

Để dập tắt cuộc kháng chiến bảo vệ Tổ quốc của nhân dân ta, thực dân Pháp dựa vào một số tên chỉ điểm, tiến hành bắt bớ, càn quét, đốt phá, sát hại đồng bào ta hết sức man rợ với chính sách “ giết sạch, đốt sạch, phá sạch”, nhất là đối với vùng nông thôn, những nơi chúng tình nghi có căn cứ cách mạng. Những tháng tiếp theo, chúng đóng thêm nhiều đồn bót dọc các trục giao thông quan trọng và lấn sâu vào nhiều vùng nông thôn, lập lại bộ máy tề xã, dụ dỗ thanh niên đi lính, tuyên truyền chia rẽ tôn giáo, phát triển lực lượng chỉ điểm và gián điệp, bao vây ta về kinh tế...

Hoạt động của địch đã gây nhiều khó khăn cho ta trong những ngày cuối năm 1945 và trong suốt năm 1946. Tuy vậy, dưới sự lãnh đạo của Đảng, quân dân Thủ Dầu Một đã kiên trì vượt qua mọi thử thách, bảo vệ vững chắc chính quyền dân chủ nhân dân, từng bước xây dựng lực lượng, đưa cuộc kháng chiến đi lên.

Ngày 25 /12/ 1945, Thủ Dầu Một tiến hành cuộc bầu cử quốc hội đầu tiên của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa [4]. Đây là một sự kiện chính trị có ý nghĩa to lớn. Lần đầu tiên, nhân dân ta được cầm lá phiếu bầu ra những người đại diện cho dân nắm giữ vận mệnh của cả dân tộc. Nam nữ thanh niên và nhân dân Thủ Dầu Một tham gia bầu cử với tỉ lệ rất cao, kể cả ở một số ấp trong thị xã, nơi địch đã chiếm đóng như ấp Bà Lụa, Phú Văn(xã Phú Cường), ấp Chánh Thành (xã Chánh Hiệp) ... ta vẫn tổ chức được nhiều điểm bỏ phiếu. Thắng lợi này là một đòn đánh vào âm mưu chia rẽ và lật đổ của kẻ thù, đồng thời làm cho uy tín của chính quyền cách mạng ngày càng được nâng cao.

Để có sự chỉ đạo thống nhất của TW đối với cuộc kháng chiến ở các tỉnh Nam bộ, ngày 25/10/1945, TW tổ chức một cuộc hội nghị quan trọng tại Cái Bè (Mỹ Tho). Hội nghị bàn bạc và đề ra phương hướng về chấn chỉnh tổ chức, tăng cường sự lãnh đạo của Đảng về mọi mặt, trước hết là đối với các lực lượng vũ trang, phát động quần chúng đẩy mạnh cuộc kháng chiến, làm thất bại âm mưu đánh nhanh, giải quyết nhanh của địch... Tiếp đó, ngày 20/11/1945, Hội nghị quân sự của Xứ uỷ Nam bộ được tổ chức tại An Phú xã (Hóc Môn - Gia Định) do Trung tướng Nguyễn Bình, cán bộ quân sự được TW phái vào chi viện cho Nam bộ, chủ trì. Hội nghị nhấn mạnh chủ trương kháng chiến trường kỳ và hai nhiệm vụ lớn là : thực hiện đoàn kết toàn dân, chống lại âm mưu chia rẽ dân tộc, chia rẽ tôn giáo của địch và thống nhất lực lượng vũ trang. Về mặt quân sự, Hội nghị quyết định tổ chức các lực lượng vũ trang Nam bộ thành 25 chi đội độc lập.

Sau Hội nghị  An Phú xã , trên cơ sở lực lượng vũ trang sẵn có[5] tỉnh Thủ Dầu Một thành lập 1 chi đội, lấy tên là chi đội 1, gồm 3 đại đội được phân công hoạt động trên các địa bàn Lái Thiêu, Châu Thành, Bến Cát và Hớn Quản. Ban chỉ huy chi đội 1 lần lượt thành lập các phòng, ban trực thuộc phụ trách các mặt chính trị, quân lương, quân y, quân giới... Nhiều viên chức trí thức, mà phần lớn là thanh niên, học sinh yêu nước đã gia nhập các ban của chi đội.

Thời kỳ này, hoàn cảnh sống và chiến đấu của bộ đội cũng như của tất cả các cán bộ dân, chính, đảng đều rất khó khăn. Lương thực, thực phẩm, thuốc chữa bệnh hết sức thiếu thốn. Công nhân cao su dầu Tiếng, Hớn Quản đã nhín phần ăn để dành lương thực cho bộ đội, giả bệnh để xin thuốc gởi cho cán bộ, chiến sĩ. Cán bộ, bộ đội đã phải phân công nhau vào rừng chặt mây, tre làm gióng, rổ rá... gởi cơ sở đem bán đổi lấy lương thực và đồ dùng. Trong hoàn cảnh ấy, các đơn vị vũ trang ta đã khắc phục khó khăn, tìm địch mà đánh để vừa tiêu hao, tiêu diệt địch, vừa lấy vũ khí và phương tiện chiến tranh, quân trang, quân dụng của chúng trang bị cho ta. Từ cuối năm 1945 và trong năm 1946, các lực lượng vũ trang ở Bến Cát, Tân Uyên... đã tổ chức các trận phục kích địch di chuyển trên đường 13, trên đường xe lửa, phối hợp với lực lượng của Biên Hòa và Khu 7 chống địch càn quét chiến khu Đ, diệt nhiều địch, thu về một số vũ khí và quân trang, quân dụng, bảo vệ căn cứ an toàn. Càng đánh, bộ đội ta càng được rèn luyện và trưởng thành bằng kinh nghiệm chiến đấu, càng được trang bị tốt hơn bằng chiến lợi phẩm, càng được nhân dân yêu mến và tin tưởng, mối quan hệ quân - dân càng được thắt chặt. Ngoài ra, ta còn lơi dụng chủ trương lập lại bộ máy tề và xây dựng nguỵ binh của địch, đưa lực lượng cốt cán vào bộ máy tề; đưa nhiều thanh niên tốt, đã được giáo dục kỹ vào các đơn vị partisant của địch. Nhờ vậy, ở nhiều nơi như Bình Hòa, An Phú và nhiều xã khác, cán bộ ta được bảo vệ an toàn, hạn chế tổn thất. Về sau, ta dùng quân đội tấn công trụ sở nguỵ quyền xã để đưa các đơn vị partisant với đầy đủ súng ống về chiến khu. Lực lượng này được bổ sung vào các đơn vị bộ đội ta hoặc tham gia kháng chiến mà địch vẫn không có lý do gì để làm khó thân nhân của họ còn sống trong vùng địch tạm chiếm. Bên cạnh đó, thanh niên tiếp tục tòng quân tham gia kháng chiến. Đến cuối tháng 12/1946, quân số toàn tỉnh có 1200 cán bộ, chiến sĩ với 420 súng các loại. Ngoài ra, Quân khu 7 đã tổ chức được 7 khóa huấn luyện quân sự ngắn ngày, đào tạo chiến sĩ du kích cho các địa phương, mỗi khóa có khoảng 60 học viên là những thanh niên ưu tú được tuyển chọn từ các tỉnh thuộc Quân khu 7. Hàng trăm học viên từ các khóa huấn luyện này được đưa về các địa phương của Thủ Dầu Một, là những hạt nhân tích cực làm nòng cốt xây dựng và phát triển lực lượng dân quân, du kích của tỉnh sau này.

Bên cạnh việc củng cố lực lượng vũ trang và hoạt động quân sự, Đảng bộ Thủ Dầu Một tích cực xây dựng và phát triển lực lượng mọi mặt nhằm chuẩn bị cho cuộc kháng chiến lâu dài.

Từ tháng 11/1945, theo chủ trương chung nhằm tránh mũi nhọn tấn công của kẻ thù bên ngoài và mở rộng tối đa khối đoàn kết toàn dân, Đảng bộ Thủ Dầu Một thực hiện chủ trương “giải tán”, thực chất là rút vào hoạt động bí mật để lãnh đạo cuộc kháng chiến thông qua Mặt trận Việt Minh và những người Cộng sản. Sinh hoạt Đảng và công tác phát triển đảng viên mới được tiến hành bí mật, trọng chất lượng. Nhằm chuẩn bị thiết thực cho việc tăng cường đội ngũ đảng viên, từ đầu năm 1946, Xứ uỷ đã tổ chức tại Thủ Dầu Một nhiều lớp huấn luyện về đường lối kháng chiến và những vấn đề cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin cho cán bộ trẻ đang công tác ở tất cả các ngành, các cấp, các đơn vị bộ đội.

Hệ thống tổ chức của Mặt trận Việt Minh được củng cố lại từ cấp tỉnh đến cấp huyện, xã, trở thành chỗ dựa vững chắc của chính quyền và quân đội ở từng địa phương. Đảng bộ, Uỷ ban kháng chiến hành chánh và Mặt trận Việt Minh đặc biệt chú trọng công tác tuyên truyền, xây dựng khối đoàn kết toàn dân để tập hợp lực lượng cho kháng chiến. Các tổ chức thành viên của Mặt trận Việt Minh không ngừng được củng cố và phát triển.
Trải qua một năm đầy khó khăn, thử thách, Đảng bộ và quân dân Thủ Dầu Một đã kiên trì vượt qua những trở ngại to lớn, bảo vệ vững chắc chính quyền dân chủ nhân dân, tiếp tục đứng vững và từng bước lớn mạnh về mọi mặt để cùng cả nước bước vào cuộc “toàn quốc kháng chiến”, duy trì và đẩy mạnh cuộc kháng chiến tại địa phương đến thắng lợi cuối cùng.

   II. ĐOÀN THANH NIÊN CỨU QUỐC VÀ THANH, THIẾU NIÊN THỦ DẦU MỘT TRONG CUỘC KHÁNG CHIẾN TOÀN DÂN, TOÀN DIỆN CHỐNG THỰC DÂN PHÁP XÂM LƯỢC (1947 - 1952)

   1. Sự hình thành và phát triển của hệ thống tổ chức Đoàn Thanh niên cứu quốc tỉnh Thủ Dầu Một

Nhằm phát huy tối đa sức mạnh toàn dân vào cuộc kháng chiến chống Pháp, Tỉnh uỷ Thủ Dầu Một đặc biệt quan tâm xây dựng và phát triển các tổ chức đoàn thể cứu quốc, trong đó, tập hợp thanh niên là một trong những mục tiêu quan trọng hàng đầu.

Từ năm 1946 , Tỉnh uỷ chỉ định đồng chí Dương Danh Thắng, cán bộ trong Tỉnh bộ Việt Minh, phụ trách công tác thanh vận, giúp Tỉnh uỷ lãnh đạo và phát triển tổ chức thanh, thiếu niên trong toàn tỉnh.

Đầu năm 1947, Tỉnh uỷ chỉ đạo tiến hành Hội nghị bầu Ban chấp hành lâm thời Đoàn Thanh niên cứu quốc tỉnh. Ban chấp hành lâm thời mới được bầu gồm các anh Dương Danh Thắng (Cao Lâm Thanh), Tỉnh Đoàn trưởng; Nguyễn Văn Tri (Nguyễn Bá Niên), Tỉnh Đoàn phó; các đ/c Năm Thích (Năm Cứu), Quốc và Ngô Vũ Hòa (Tỉnh). Đây là Ban chấp hành Tỉnh Đoàn Thanh niên đầu tiên của Thủ Dầu Một, với lực lượng thành viên gồm một số cán bộ, đảng viên và thanh niên tích cực, có cảm tình với Đảng, làm nhiệm vụ tuyên truyền, phát động, tổ chức và lãnh đạo thanh niên. Để xây dựng và phát triển mạng lưới tổ chức Đoàn ở cơ sở, Ban chấp hành Tỉnh Đoàn TNCQ quyết định chọn xã Tân Hiệp, một xã nằm trên vùng căn cứ giải phóng của ta làm điểm xây dựng chi đoàn đầu tiên, từ đó, rút kinh nghiệm xây dựng và phát triển tổ chức đoàn rộng khắp toàn tỉnh. Chi đoàn đầu tiên sẽ được xây dựng trên cơ sở lựa chọn những thanh niên gương mẫu, tích cực nhất trong phong trào 3 tốt : xóa mù chữ tốt, sản xuất tự túc tốt, xây dựng xã chiến đấu tốt. Đồng chí Nguyễn Bá Niên và đồng chí Hồng được Ban chấp hành Tỉnh Đoàn phân công trực tiếp chỉ đạo phát động phong trào và phát triển đoàn viên.

Qua tuyên truyền, phát động, phong trào “3 tốt” được thanh, thiếu niên xã Tân Hiệp hưởng ứng mạnh mẽ. Sôi nổi nhất là phong trào bình dân học vụ nhằm xóa nạn mù chữ. Các nam, nữ thanh niên biết chữ hăng hái tình nguyện dạy cho những người chưa biết chữ. Lớp học là nhà dân. Có nơi cũng đầy đủ bảng đen, phấn viết, nhưng nhiều nơi thầy trò phải dùng vách nhà làm bảng, khoai mì phơi khô làm phấn, ghế ngồi do học viên tự mang đến... Vậy mà đêm đêm, tiếng đánh vần vẫn vang đều khắp xóm. Thanh, thiếu niên còn có sáng kiến lập ra các trạm kiểm tra trên các đoạn đường đông người qua lại, ai đọc được các khẩu hiệu thì cho đi qua, ai không đọc được thì trở lại. Biện pháp tuy có phần cứng nhắc nhưng lại được quần chúng đồng tình, vì nó thể hiện lòng khát khao vươn tới văn minh, tiến bộ của cả một dân tộc đã hàng trăm năm bị chủ nghĩa thực dân kìm hãm trong vòng ngu muội. Với tinh thần “Muốn làm chủ đất nước, phải biết chữ” như khẩu hiệu của Tỉnh Đoàn đưa ra thời đó, chỉ trong một thời gian ngắn, hầu hết thanh, thiếu niên và cả người lớn tuổi trong toàn xã đã biết đọc, biết viết chữ quốc ngữ.

Bên cạnh đó, thanh, thiếu niên còn tích cực tham gia sản xuất tự túc. Ban đêm học chữ, ban ngày sản xuất. Trong từng ấp và giữa các ấp trong xã, dấy lên một phong trào thi đua tăng gia sản xuất.Thanh niên phấn đấu mỗi người trồng từ 100 đến 300m khoai lang; 100 đến 300 gốc khoai mì... Các em thiếu nhi cũng hăng hái tham gia trồng chuối, trồng rau xanh, nuôi gà... góp phần nuôi quân, giải quyết khó khăn về lương thực, thực phẩm tại chỗ của địa phương.

Thanh niên cũng là lực lượng tích cực đi đầu trong công tác xây dựng xã, ấp chiến đấu. Các ấp thi đua đào công sự chống pháo dọc các đường xe, đường bộ; làm rào chiến đấu; đào hầm, hố chông... Thanh niên nam, nữ xung phong tòng quân và gia nhập du kích ấp, xã.
Qua phong trào, những thanh niên hăng hái, tích cực, đạt thành tích cao đều được khen thưởng, biểu dương và lựa chọn để kết nạp vào Đoàn Thanh niên cứu quốc. Ap nào có 3 đoàn viên trở lên thì lập Phân Đoàn. Khi các ấp trong xã đều có Phân Đoàn thì tiến hành Đại hội bầu Ban chấp hành Chi Đoàn Thanh niên cứu quốc xã. Lúc bấy giờ, đồng chí Tám Quân được bầu làm Chi Đoàn trưởng xã Tân Hiệp.Đây là Chi Đoàn Thanh niên cứu quốc đầu tiên của tỉnh Thủ Dầu Một. Từ kinh nghiệm ở xã Tân Hiệp, tổ chức cơ sở Đoàn lần lượt được xây dựng trên toàn tỉnh. Ở những nơi trước đây có lực lượng Thanh niên tiền phong, hầu hết các đoàn viên Thanh niên tiền phong tích cực, hăng hái tham gia kháng chiến đều được kết nạp vào Đoàn TNCQ. Ở mỗi huyện, nếu có BCH Chi đoàn ở 5,7 xã thì tổ chức bầu BCH huyện. Cứ như vậy, đến giữa năm 1947, Thủ Dầu Một đã xây dựng được hệ thống tổ chức Đoàn ở 3 cấp : xã, huyện và tỉnh. Các em thiếu nhi thì được kết nạp vào Đội thiếu nhi cứu quốc, có anh phụ trách ở ấp và Ban phụ trách thiếu nhi từng xã.
 
   2. Thanh, thiếu niên thi đua góp sức vào cuộc kháng chiến toàn dân, toàn diện chống Pháp (1947- 1952)

Dưới sự lãnh đạo của Đảng và hoạt động tích cực của Tỉnh Đoàn Thanh niên cứu quốc Thủ Dầu Một, đồng thời, cùng với sự phát triển mạnh mẽ của tổ chức Đoàn cơ sở, thanh, thiếu niên Thủ Dầu Một được tập hợp, rèn luyện và phát huy tối đa năng lực của tuổi trẻ trong các phong trào cách mạng rộng lớn của cả nước.

Tháng 4/ 1947, TW Đảng triệu tập Hội nghị cán bộ TW bàn về công tác vận động thanh niên trong kháng chiến. Hội nghị nhấn mạnh nhiệm vụ trước mắt của thanh niên trong thời kỳ này là tham gia bộ đội, dân quân; giúp đỡ việc tản cư; tham gia dạy bình dân học vụ và tiểu học; đoàn kết vận động thanh niên đứng lên cứu nước. Cuối năm 1947, Đại hội Đoàn Thanh niên cứu quốc tỉnh Thủ Dầu Một phát động phong trào thanh niên đi đầu “diệt giặc đói, diệt giặc dốt, diệt giặc ngoại xâm” với khẩu hiệu “Thanh niên vui - trẻ - khỏe - hùng”. Đại hội lần thứ I Đoàn TNCQ Nam bộ cũng được triệu tập từ ngày 5 đến ngày 8/12/1947 tại chiến khu Đồng Tháp Mười nhằm nêu lên phương hướng hoạt động của Đoàn trong giai đoạn mới, đáp ứng yêu cầu của cuộc kháng chiến. Đại hội Xứ Đoàn đã phát động phong trào thanh niên thi đua lập công với các nội dung :

- Quân sự hóa thanh niên (tòng quân, luyện tập quân sự, công tác dân quân)

- Xây dựng đời sống mới, xây dựng nông thôn mới.
- Tăng gia sản xuất lương thực.

- Tham gia công tác bình dân học vụ và công tác thiếu nhi.

Các phong trào do Tỉnh Đoàn và Xứ Đoàn phát động nhanh chóng được thanh thiếu niên vùng căn cứ kháng chiến, vùng tự do và cả vùng địch tạm chiếm hưởng ứng sôi nổi, góp phần quan trọng vào công cuộc kháng chiến và kiến quốc. Thanh, thiếu niên là lực lượng hăng hái, tích cực nhất trong phong trào bình dân học vụ nhằm xóa nạn mù chữ và nâng cao trình độ văn hóa cho nhân dân. Công tác xoá nạn mù chữ bị gián đoạn từ khi thực dân Pháp tái chiếm thị xã Thủ Dầu Một, đến giữa năm 1947 trở đi, phong trào được khôi phục và phát triển mạnh mẽ ở vùng căn cứ kháng chiến và vùng du kích. Trong phong trào bình dân học vụ, thanh niên là lực lượng chủ yếu làm nhiệm vụ dạy học và tuyên truyền, cổ động toàn dân tham gia. Thành tích xóa nạn mù chữ của Thủ Dầu Một được xếp vào loại khá trong khu vực Miền Đông Nam bộ. Riêng huyện Bến Cát, được Xứ Đoàn uỷ Thanh niên cứu quốc Nam bộ tặng cờ “Tiền phong diệt giặc dốt” [6] Nhằm nâng cao đời sống văn hóa, tinh thần trong thanh, thiếu niên và nhân dân, đồng thời tuyên truyền, động viên toàn dân tham gia kháng chiến, Tỉnh Đoàn ra báo “Bò cạp lửa”, thành lập Đoàn văn nghệ nghiệp dư, biểu diễn lưu động ở các xã vùng kháng chiến với các tiết mục ca hát, hò vè, diễn kịch...được đông đảo bà con khen ngợi, cổ vũ. Ty thông tin tuyên truyền cũng lập các đoàn biểu diễn lưu động nhằm phục vụ cho nhân dân và cán bộ, chiến sĩ vùng căn cứ, vùng du kích. Huyện Tân Uyên còn có đoàn ca múa thiếu nhi Sơn Ca, thu hút đông đảo khán giả thiếu nhi và cả những người lớn tuổi.

Trong phong trào thi đua sản xuất để tự túc lương thực, ngoài việc động viên thanh, thiếu niên tăng gia sản xuất, Tỉnh Đoàn còn vận động thanh niên giúp đỡ bà con nông dân thu hoạch mùa màng trong những ngày bom pháo ác liệt. Ở khu vực rừng Tân Long, nơi Tỉnh Đoàn Thanh niên cứu quốc đóng căn cứ, có năm lúa mùa đã chín, nhưng bà con nông dân lại thiếu đói vì không dám ra đồng, sợ máy bay địch và bọn lính đồn bắn ra. Tỉnh Đoàn đã lập một đội Thanh niên xung phong giúp dân thu hoạch lúa. Đêm đến, các thanh niên ra đồng, dùng tay tuốt lúa cho vào bao tải đem về cho dân. Cứ thế, suốt một tuần lễ, đội đã giúp dân đem về hàng trăm giạ lúa. Vùng đồng bào dân tộc ở Hớn Quản (nay thuộc Bình Long) thường bị thiếu đói. Năm 1949, thời tiết hạn hán, vấn đề lương thực của đồng bào và chiến sĩ ở Hớn Quản càng khó khăn hơn. Trước tình hình đó, Tỉnh hội Phụ nữ và Tỉnh Đoàn TNCQ đã nhận nuôi dạy 40 trẻ mồ côi người dân tộc. Một đại đội Thanh niên xung phong được giao nhiệm vụ mang giống khoai mì lên trồng giúp đồng bào, đồng thời cùng với Hội Phụ nữ cứu quốc tỉnh đón các em về nuôi và tổ chức cho các em học văn hóa cho đến ngày tập kết ra Bắc. Năm 1952, Miền Đông lại gặp cơn bão lụt lớn chưa từng có. Nước dâng cao, nhận chìm hết nhà cửa, ruộng vườn, vật nuôi, giống lúa và hoa màu... Những ngày sau đó là nạn đói trầm trọng. Miền Tây Nam bộ nhanh chóng quyên góp hỗ trợ đồng bào Miền Đông. Tỉnh Đoàn Thanh niên cứu quốc Thủ Dầu Một tổ chức ngay Đội Thanh niên xung phong gồm hàng ngàn đội viên, làm nhiệm vụ vận chuyển lương thực từ Miền Tây về Miền Đông. Các anh chị thanh niên xung phong không nề hy sinh, gian khổ, dũng cảm vượt qua nhiều đồn bót địch để chuyển lương thực về cứu đói cho đồng bào và cán bộ, chiến sĩ. Ngoài ra, thực hiện chủ trương của Tỉnh uỷ, tất cả các cơ quan dân, chính, đảng đều khẩn trương tổ chức sản xuất hoa màu ngắn ngày để cứu đói. Các cơ quan, đơn vị công tác chuyên môn, văn phòng được sắp xếp lại, mỗi người làm kiêm hai ba việc để điều các thanh niên trẻ, khỏe vào các tổ sản xuất cứu đói.

Nhờ có những biện pháp tích cực của Tỉnh uỷ, Tỉnh Đoàn Thanh niên cứu quốc và ý chí, sức mạnh của tuổi trẻ, thanh thiếu niên Thủ Dầu Một đã góp phần cùng nhân dân trong tỉnh vượt qua những khó khăn gay gắt về lương thực, thực phẩm của một vùng căn cứ rừng núi Miền Đông, đặc biệt là nạn đói nghiêm trọng sau mùa bão lũ 1952, để cùng cả nước bước vào chiến dịch Đông - Xuân 1953 - 1954, kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược.

Đối với chủ trương xây dựng đời sống mới, xây dựng nông thôn mới, Tỉnh Đoàn Thủ Dầu Một được phân công xây dựng mô hình “khu đời sống mới” đầu tiên làm thí điểm cho các tỉnh.

“Khu đời sống mới” được xây dựng ở ấp 3 xã Tân Hiệp, do Chi đoàn TNCQ xã Tân Hiệp chịu trách nhiệm thực hiện trên cơ sở huy động nhân lực và vật liệu xây dựng từ đoàn viên và thanh niên trong xã, có sự hỗ trợ của Đảng, chính quyền và các đoàn thể cứu quốc tại chỗ. Về phía Tỉnh Đoàn, đồng chí Nguyễn Bá Niên được phân công trực tiếp chỉ đạo thực hiện công trình.

Mô hình “khu đời sống mới” được xây dựng trên một diện tích rộng hơn 4 ha dọc theo con đường từ ấp 2 đến ấp 3 xã Tân Hiệp. Mô hình phản ánh một xã hội tốt đẹp với nếp sống mới, tiến bộ, cùng những đáp ứng phúc lợi của chế độ mới nhằm nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân. Ở đây có sân thể thao (tổ chức thi đấu bóng đá, bóng chuyền hàng tuần giữa thanh niên các xã lân cận và thanh niên trong các cơ quan, đơn vị đóng căn cứ trên địa bàn), có sân khấu dã ngoại, Phòng thông tin văn hóa, Trạm y tế (với 1 y tá và 2 cứu thương khám, chữa bệnh và bán thuốc cho nhân dân), có các lớp bình dân học vụ có đủ giáo viên đứng lớp, có chợ, có quán cà phê, hủ tíu hợp vệ sinh và tiện lợi cho sinh hoạt và công tác của nhân dân, cán bộ. Nét đặc biệt của khu đời sống mới là nhà ở của dân là nhà kiểu mẫu [7]. Nhân dân được hướng dẫn ăn ở hợp vệ sinh : ăn sạch, uống chín, dùng đũa hai đầu... Chung quanh khu đời sống mới có hệ thống hầm, hố chông và giao thông chiến. Cả ấp được xây dựng thành ấp chiến đấu. Mô hình khu đời sống mới của thanh niên Tân Hiệp bị địch đánh phá dữ dội, nhưng vẫn tồn tại trên 2 năm, được nhiều tỉnh bạn đến tham quan, rút kinh nghiệm. Đồng thời, mô hình ấp chiến đấu cùng với Xã Đoàn TNCQ xã Tân Hiệp đã chiến đấu tích cực, góp phần bảo vệ khu căn cứ Tân Long trong suốt thời kỳ kháng chiến chống Pháp.

Riêng các em đội viên Thiếu nhi cứu quốc, bằng sáng kiến và cách thức riêng, cũng cố gắng đóng góp công sức của mình vào cuộc kháng chiến của cả nước. Ở 3 xã An Điền, An Tây, Phú An (Bến Cát), nơi ta có một số cơ quan, đơn vị đứng chân hoạt động, địch thường tuần tra và hành quân càn quét bằng tàu chiến trên sông Sài Gòn và sông Thị Tính chảy qua 3 xã. Các em thiếu nhi hằng ngày đi chăn trâu, cắt cỏ, cứ thấy địch là dùng những chiếc tù và làm bằng lá khóm để báo động cho bà con thu xếp tránh giặc. Khi giặc rút đi, các em cũng thổi tù và báo tin cho bà con trở về sinh hoạt bình thường, nhưng tiếng tù và kéo dài, thong thả chớ không thúc giục, liên hồi như khi báo động. Bà con nông dân ai cũng khen tiếng tù và của các em đã góp phần giúp ích cho kháng chiến. Còn Ut Tèo, đội trưởng Đội thiếu nhi cứu quốc xã Phú An, vừa học giỏi, vừa đàn, hát, bơi lội, chèo ghe đều giỏi cả. Một lần, 3 đội viên du kích xã đang đi làm nhiệm vụ nhưng bị lộ và bị địch truy đuổi ráo riết, Út Tèo đã dũng cảm chèo ghe đưa 3 anh vượt sông Sài Gòn, cặp bờ bên kia an toàn, thoát khỏi tay giặc. Có nơi (như xã An Long, huyện Hớn Quản), các em thiếu nhi còn trồng khoai lang, khoai mì để dành riêng khao quân cho các anh bộ đội sau những trận chống địch càn quét xóm làng, làm cho các anh hết sức ngỡ ngàng và cảm động. Thiếu nhi Bến Cát, Lái Thiêu...cùng với các chị nữ thanh niên góp phần động viên tinh thần chiến sĩ Vệ quốc đoàn ngày đêm chiến đấu trên khắp các nẻo đường kháng chiến ở Thủ Dầu Một bằng những chiếc khăn tay thêu gởi ra tiến tuyến, hoặc lúc đưa tiễn các anh lên đường tòng quân… Đó là những tấm tình sâu nặng của hậu phương, góp phần hun đúc dũng khí diệt thù, giải phóng đất nước của các chiến sĩ Vệ quốc đoàn trên khắp vùng đất Thủ thời kỳ kháng chiến chống Pháp [8] Trong kháng chiến, để thắng giặc, mặt trận quân sự vẫn là mặt trận quan trọng hàng đầu. Vì vậy, công tác tuyên truyền, vận động thanh niên tòng quân và tham gia dân quân, du kích được Tỉnh Đoàn và các cấp bộ Đảng, chính quyền đặc biệt quan tâm và đạt hiệu quả lớn. Thanh niên luôn luôn đi đầu và là lực lượng chủ yếu trong phong trào tòng quân giết giặc. Nhờ đó, các lực lượng vũ trang tỉnh, huyện không ngừng được bổ sung, tăng cường quân số, đáp ứng yêu cầu kháng chiến. Bên cạnh đó, phong trào dân quân của tỉnh phát triển mạnh mẽ và trở thành phong trào quần chúng sôi nổi ở tất cả các ngành, các cấp. Lực lượng dân quân cơ sở gồm có dân quân tự vệ và dân quân du kích. Các đoàn thể quần chúng cũng quan tâm xây dựng phong trào dân quân trong đoàn thể của mình với khẩu hiệu : “Mỗi đoàn viên, mỗi hội viên là một dân quân”. Đoàn Thanh niên cứu quốc gắn bó chặt chẽ với tổ chức dân quân của chính quyền. Ở cấp tỉnh, uỷ viên Tỉnh Đoàn phụ trách dân quân cũng đồng thời là uỷ viên của Tỉnh đội bộ dân quân. Ở cấp huyện và cấp xã, Huyện Đoàn phó, Xã Đoàn phó được phân công phụ trách dân quân. Lực lượng dân quân du kích được tổ chức học tập quân sự, được bộ đội tỉnh dìu dắt về kỹ thuật tác chiến, về công tác quần chúng, giúp trang bị vũ khí... Đến cuối năm 1947, ta có lực lượng dân quân du kích ở hầu khắp các xã, nhiều đội du kích có khả năng hoạt động chiến đấu với hiệu quả cao, nổi bật nhất là các đội du kích Hòa Lân, Chánh Phú Hòa, Thới Hòa, Tân Phước Khánh, Chánh Hiệp... Đặc biệt, có đội nữ du kích Thanh Tuyền, huyện Bến Cát được thành lập từ tháng 12/1947, gồm 16 đội viên nữ tuổi từ 16 đến 22, do chị Ngô Nguyệt Thu làm Tiểu đội trưởng, chị Liễu Thị Kim Tinh làm Tiểu đội phó... Ngoài nhiệm vụ canh gác, bảo vệ các cửa ngõ vào căn cứ Đường Long - Ta Leng của ta, phối hợp với du kích các xã khác bảo vệ cho lực lượng dân quân làm công tác phá hoại giao thông, phá hoại kinh tế địch, đội nữ du kích Thanh Tuyền còn tổ chức được nhiều trận đánh tiêu hao, tiêu diệt địch, phối hợp với các trung đoàn chủ lực 301, 306, 312 trong các trận đánh bót Nhà Mát, An Tây, An Điền, Phú Hưng, Bến Súc, Rạch Kiến... Đây là đội nữ du kích đầu tiên của tỉnh Thủ Dầu Một, cũng là đội nữ du kích đầu tiên của Nam bộ, là niềm tự hào lớn của Tỉnh Đoàn Thanh niên cứu quốc Thủ Dầu Một. Đội đã vinh dự nhận được bằng khen của Bộ Tư lệnh Quân khu 7 (do Trung tướng Nguyễn Bình ký), của UBHCKC Nam bộ, UBHCKC Thủ Dầu Một, Tỉnh đội Thủ Dầu Một... [9] Từ đội nữ du kích Thanh Tuyền, nhiều xã khác cũng lần lượt thành lập các đội nữ du kích (như Chánh Phú Hòa, Long Nguyên, Định Hòa...). Lực lượng dân quân du kích đã phối hợp chặt chẽ với lực lượng vũ trang tỉnh, huyện đẩy mạnh cuộc đấu tranh vũ trang tiêu hao, tiêu diệt địch, góp phần đưa cuộc kháng chiến chống Pháp tiến dần đến thắng lợi.

Thời kỳ này, lực lượng Thanh niên xung phong tiếp tục được duy trì và củng cố. Ở Bến Cát, Đội Thanh niên xung phong huyện được thành lập từ năm 1949, do anh Nguyễn Văn Đời là Phó đoàn Thanh niên cứu quốc huyện cùng hai cán bộ khác là chị Trần Thị Phàn (tức đc Trần Thị Hữu) và anh Phan Văn Thuấn phụ trách. Đội Thanh niên xung phong Bến Cát có vai trò quan trọng trong việc tổ chức các đội Thanh niên xung phong các xã, phối hợp với Xã đội dân quân tập luyện quân sự cho các đội Thanh niên xung phong xã, tổ chức phục vụ hỏa tuyến, đặc biệt là trong các trận đánh cầu Cồm Nộm, đánh bót Thanh Tuyền-Bến Súc hoặc trong chiến dịch Lê Hồng Phong… [10] . Hoạt động mạnh mẽ của Thanh niên xung phong, dân quân du kích đã phối hợp chặt chẽ với lực lượng vũ trang tỉnh, huyện đẩy mạnh cuộc đấu tranh vũ trang tiêu hao, tiêu diệt địch, góp phần đưa cuộc kháng chiến chống Pháp tiến dần đến thắng lợi.

Với lực lượng vũ trang phát triển mạnh về số lượng và không ngừng được học tập, rèn luyện nâng cao năng lực tác chiến và những phẩm chất cao quý của “bộ đội Cụ Hồ”, trong năm 1947, ta tổ chức nhiều trận chống càn, đánh đồn, đánh giao thông ở nhiều nơi thuộc các huyện Lái Thiêu, Bến Cát, Châu Thành, Tân Uyên, Hớn Quản... diệt gọn 2 đại đội, 9 trung đội, 6 tiểu đội và gần 500 tên khác, thu gần 400 súng các loại, thu 8 toa xe lửa chở đầy hàng hóa của địch, đốt hàng chục xe quân sự... Một trong những trận đánh nổi bật là trận đánh chiến khu Bình Quới Tây của địch, dùng nội ứng tiêu diệt toàn bộ Ban chỉ huy và tham mưu địch, bức hàng binh lính và cướp toàn bộ súng ống, lực lượng ta rút lui an toàn. Với thành tích chiến đấu của lực lượng vũ trang ta, trong năm 1947, địch phải rút bỏ nhiều đồn bót đóng sâu trong vùng nông thôn, vùng giải phóng của ta được mở rộng, tạo thuận lợi cho sự phát triển về mọi mặt của những năm tiếp theo. Chiến khu Thuận An Hòa, căn cứ của các cơ quan cấp tỉnh và huyện Lái Thiêu được củng cố và mở rộng lên phía bắc (chiến khu Tân Long) tạo thế liên hoàn với chiến khu Vĩnh Lợi, căn cứ của huyện Châu Thành. Ở Bến Cát, ta có vùng căn cứ tây nam với 3 xã An Điền, An Tây, Phú An nối liền với căn cứ bắc Bến Cát gồm các xã Long Nguyên, Thanh An, Thanh Tuyền là nơi đứng chân thuận lợi của huyện Bến Cát, của đặc khu Sài Gòn - Chợ Lớn và tỉnh Gia Định trong nhiều năm liền. Bị thất bại nặng nề trong trận Việt Bắc (1947), từ năm 1948, thực dân Pháp chuyển sang thực hiện chiến lược đánh lâu dài với chính sách “dùng người Việt giết người Việt, lấy chiến tranh nuôi chiến tranh Chúng ra sức củng cố vùng đã chiếm đóng, củng cố nguỵ quyền, phát triển nguỵ quân, tranh thủ viện trợ Mỹ, thực hiện những cuộc hành quân vừa và nhỏ nhằm phá hoại cơ sở kinh tế, chính trị của ta. Nắm được ý đồ của địch, Xứ uỷ Nam bộ chủ trương đẩy mạnh chiến tranh du kích trên toàn Nam bộ, tích cực bảo vệ lực lượng dự trữ và hậu phương ta, đánh vào lực lượng dự trữ và hậu phương của địch. Từ tháng 3/ 1948, ta xây dựng chi đội 1 thành trung đoàn 301 với đầy đủ 3 tiểu đoàn và lực lượng trợ chiến. Mạng lưới dân quân phát triển rộng khắp, phối hợp nhịp nhàng với bộ đội chủ lực trong tác chiến. Trong những năm 1948, 1949 ta tiếp tục giành nhiều thắng lợi quan trọng trong các trận chống càn lớn, bảo vệ vững chắc chiến khu Thuận An Hòa, chiến khu Vĩnh Lợi, phối hợp với các lực lượng của khu 7, Biên Hòa bẻ gãy các cuộc càn lớn của địch vào chiến khu Đ... Lực lượng dân quân, du kích các xã chặn đánh nhiều cuộc hành quân nhỏ hoặc phục kích diệt các đơn vị biệt kích Pháp, đánh đồn, đánh giao thông... tiêu hao, tiêu diệt nhiều sinh lực địch. Đêm 19/3/1948, một tổ chiến đấu của huyện đội Tân Uyên giành thắng lợi trong trận đánh tháp canh cầu Bà Kiên bằng cách đưa lựu đạn vào tận tháp canh diệt địch. Đây là trận đánh đầu tiên theo lối đánh đặc công, mở đầu cho những thắng lợi liên tiếp tiêu diệt hàng loạt tháp canh trong chiến thuật tháp canh hay còn gọi là chiến thuật mạng nhện của De Latour. Từ trận đánh này, về sau, quân đội ta lấy ngày 19/3 làm ngày truyền thống của binh chủng đặc công.

Năm 1950, mặt trận đấu tranh quân sự của nhân dân Bình Dương tiếp tục giành nhiều thắng lợi, nổi bật nhất là thành tích dùng chiến thuật đặc công và vũ khí FT1, FT2 tiêu diệt hàng loạt hệ thống tháp canh De Latour, bẻ gãy âm mưu chia cắt chiến trường của địch. Giữa tháng 7/1950, phối hợp với chiến dịch biên giới trên chiến trường chung, Bộ Tư lệnh Quân khu 7 quyết định mở chiến dịch Bến Cát với mục tiêu tiêu diệt hàng loạt tháp canh và đồn bót nằm trong phân chi khu Bến Cát nhằm cắt đứt giao thông trên đường số 7 và đường 14, mở rộng căn cứ địa cách mạng, tiêu hao, tiêu diệt địch, bồi dưỡng lực lượng ta, đồng thời, gây niềm tin và khí thế mới để động viên nhân dân. Bằng sự nỗ lực lớn của quân dân toàn tỉnh, chiến dịch Bến Cát kết thúc thắng lợi vào ngày 15/11/1950, sau 38 ngày đêm chiến đấu. Đây là chiến dịch lớn đầu tiên được tổ chức ở chiến trường Miền Đông, đánh dấu bước trưởng thành lớn của lực lượng vũ trang quân khu 7, góp phần với những thắng lợi giòn giã của chiến trường chung.

Từ năm 1951, Đại tướng Delattre De Tassigny _ Cao ủy kiêm Tổng chỉ huy quân viễn chinh Pháp ở Đông Dương đưa ra kế họach mới trên chiến trường Đông Dương, nhằm thực hiện những mục tiêu quan trọng là bình định cho được vùng tạm chiếm, phá hoại và tiến công vùng tự do… Riêng đối với Miền Đông Nam bộ, địch chủ trương đẩy mạnh tấn công ta bằng quân sự, kinh tế, chính trị trên cả 3 vùng chiến lược (vùng căn cứ du kích, vùng du kích – vùng tranh chấp và vùng tạm chiếm) nhằm tiêu diệt lực lượng kháng chiến, đè bẹp chiến tranh du kích, vơ vét sức người, sức của của nhân dân ta để phục vụ cho chiến tranh xâm lược của chúng, đồng thời, chia cắt chiến trường Miền Đông và Miền Tây Nam bộ.

Để đối phó với hoạt động tăng cường đánh phá, lấn chiếm của địch, các Huyện uỷ Lái Thiêu, Bến Cát chỉ đạo cho quân dân trong huyện tiến hành đào địa đạo để bám trụ địa bàn đánh địch. Tại Lái Thiêu, hàng ngàn dân công và đoàn viên Thanh niên cứu quốc tích cực tham gia đào địa đạo trong các xã chiến khu Thuận An Hòa. Công trình đang dang dở với gần 8 km địa đạo thì địch mở cuộc càn quét lớn. Bộ đội địa phương và dân quân du kích kiên cường bám địa bàn, tiêu hao tiêu diệt nhiều sinh lực địch. Hơn hai tháng sau địch mới chiếm được chiến khu Thuận An Hòa. Tại Bến Cát, mùa khô năm 1951, quân dân 3 xã An Điền, An Tây, Phú An do Đoàn Thanh niên cứu quốc làm nòng cốt, dưới sự chỉ huy trực tiếp của Huyện đội phó Lâm Quốc Đăng bắt đầu đào địa đạo 3 xã tây nam Bến Cát. Đến cuối năm 1952, đào được hàng chục cây số địa đạo thì trận lụt lớn tháng 10/1952 buộc công trình phải dừng lại.

Trong suốt năm 1951, lực lượng ba thứ quân ở Bình Dương kiên cường bám trụ, tiêu hao, tiêu diệt một bộ phận sinh lực địch, giữ vững được một số vùng căn cứ. Nhưng, bước sang năm 1952, địch ráo riết đẩy mạnh chính sách “bình định gấp rút, phản công quyết liệt”. Trong khi đó, ta gặp nhiều lúng túng trong việc sắp xếp lại chiến trường, bố trí lực lượng có nhiều điểm không hợp lý… khiến trong thời gian đầu địch đóng thêm nhiều đồn, tua mới trên các trục đường 14, đường số 7, số 8, đường 16, đuờng 13… thực hiện chia cắt chiến trường, bao vây hiến khu Đ, chiếm đóng chiến khu Thuận An Hòa và nhiều vùng căn cứ khác…. Hoạt động của địch gây cho ta nhiều khó khăn trong tác chiến và liên lạc giữa các vùng trong và ngoài tỉnh. Lực lượng cách mạng của các huyện Thủ Đức, Lái Thiêu, thị xã Thủ Dầu Một bị tróc khỏi địa bàn, hoạt động không hiệu quả, lại dễ bị tổn thất. Trong điều kiện đó, Tỉnh ủy chủ trương cho các huyện trên phải có biện pháp để trở về bám trụ địa phương, chỉ đạo nhân dân chiến đấu. Thực hiện chủ trương trên, các ban ngành cấp huyện được tổ chức lại gọn nhẹ để trở về bí mật bám trụ trong dân; các xã được phân loại và xác định phương châm đấu tranh thích hợp đối với 3 vùng chiến lược; lực lượng vũ trang được phân tán, vừa làm nhiệm vụ bảo vệ cán bộ trở về bám trụ địa phương, vừa chiến đấu tiêu hao tiêu diệt địch, đồng thời sẵn sàng chiến đấu tập trung khi cần thiết… những nỗ lực lớn, trong năm 1952, ta từng bước vượt qua khó khăn. Cán bộ các huyện Lái Thiêu, Châu Thành, Bến Cát trở về bám đất, bám dân đánh địch, từng bước giải quyết khó khăn về tư tưởng trong một bộ phận cán bộ và nhân dân, lực lượng vũ trang 3 thứ quân thu được nhiều kết quả tốt trong tác chiến. Nổi bật nhất là trận tấn công vào Ban chỉ huy cuộc hành quân “Nhà Lá” (2/1952), trận bẻ gãy cuộc hành quân lớn càn quét vào chiến khu Dương Minh Châu, phục kích đánh tiêu hao, tiêu diệt địch trên đường 13, 16… Trên các đồn điền cao su phía bắc của tỉnh, ta thực hiện tấn công phá hoại kinh tế địch, gây cho chúng nhiều tổn thất.

Như vậy, trong năm 1952, tuy ta gặp khó khăn lớn về kinh tế do thiên tai, nhưng quân dân và thế hệ trẻ Bình Dương đã cố gắng vượt qua khó khăn, từng bước củng cố sức mạnh quân sự, tạo điều kiện đưa cuộc kháng chiến của quân dân tỉnh nhà bước vào giai đoạn kết thúc cuộc kháng chiến chống Pháp với những điều kiện thuận lợi và một khí thế mới

III.VAI TRÒ CỦA THANH NIÊN THỦ DẦU MỘT TRONG CHIẾN DỊCH ĐÔNG - XUÂN 1953 – 1954, GÓP PHẦN KẾT THÚC THẮNG LỢI CUỘC KHÁNG CHIẾN CHỐNG PHÁP

Từ giữa năm 1953, lực lượng so sánh giữa ta và địch trên chiến trường ngày càng thay đổi theo hướng có lợi cho ta. Tháng 7/1953, Hội đồng Chính phủ và Hội đồng quốc phòng Pháp thông qua kế hoạch quân sự của Na-va [11] với quyết tâm tăng cường lấn chiếm đồng bằng khu 5 và Nam bộ, đồng thời, tăng cường lực lượng cơ động, mở một cuộc tiến công chiến lược nhằm giành thắng lợi to lớn về quân sự trong mùa thu 1954, buộc ta phải chấp nhận đàm phán theo điều kiện của chúng. Nhận rõ âm mưu địch, tháng 9/1953, Bộ chính trị TW Đảng họp, quyết định mở cuộc tiến công chiến lược Đông - Xuân 1953 - 1954, theo phương châm tránh chỗ mạnh, đánh chỗ yếu, đánh chắc thắng. Đối với chiến trường Nam bộ, Bộ chính trị chủ trương đẩy mạnh chiến tranh du kích, tiêu hao tiêu diệt một bộ phận sinh lực địch, tăng cường công tác địch vận mở rộng căn cứ. Thực hiện chủ trương của Bộ chính trị và chỉ thị của Bộ tư lệnh Phân liên khu Miền Đông, Tỉnh uỷ Thủ Dầu Một tích cực phát triển lực lượng, đẩy mạnh du kích chiến tranh nhằm tiêu hao, tiêu diệt sinh lực địch, phối hợp với chiến trường chung. Nhân dân Thủ Dầu Một, trong đó, chủ yếu là nam nữ thanh niên hăng hái gia nhập lực lượng du kích và dân quân tự vệ. Từ tháng 9/1953 đến tháng 3/1954, toàn tỉnh đã xây dựng thêm 52 đội du kích xã, làm cho số đội viên du kích tăng từ 140 lên 513 người; dân quân tự vệ có 1862, du kích mật có 527 người. Bộ đội tỉnh , huyện và dân quân du kích đã tổ chức được 137 trận đánh lớn, nhỏ, loại khỏi vòng chiến đấu hơn 1000 quân địch, tịch thu và phá huỷ nhiều vũ khí, đạn dược và phương tiện chiến tranh của chúng.

Bên cạnh đó, công tác vận động binh lính địch phát triển thành một phong trào rộng lớn và thu được nhiều kết quả quan trọng, góp phần làm suy yếu địch. Chỉ riêng huyện Lái Thiêu, trong tháng 12/1953 đã vận động được 100 lính Khơ-me bỏ hàng ngũ địch trở về với gia đình. Trong toàn tỉnh, những tháng đầu 1953, ta đã vận động được hàng ngàn quân nguỵ bỏ ngũ về nhà làm ăn hoặc quay súng về với kháng chiến.

Với những thắng lợi của công tác quân sự, địch vận, vùng giải phóng ngày càng được mở rộng, nhiều xã vùng tạm chiếm trở thành vùng tranh chấp, vùng tranh chấp trở thành căn cứ du kích. Hoạt động của vùng nông thôn giải phóng, vùng căn cứ ngày càng sôi động, rộn rịp với số dân từ các khu tập trung và vùng tạm chiếm trở về ngày càng đông.

Từ tháng 3/1954, Tỉnh uỷ Thủ Biên chủ trương mở một đợt tiến công quân sự mạnh vào các vùng tạm chiếm nhằm  tiêu hao, tiêu diệt địch phối hợp chặt chẽ với chiến trường chung. Lực lượng vũ trang các thứ quân của ta đã phối hợp, tổ chức thắng lợi nhiều trận tiến công tiêu diệt địch ở bót Kiến Điền và nhiều bót khác trên đường 13; đánh tiêu diệt địch trong các trận chống càn ở Núi Cậu (Dầu Tiếng),ở Thái Hòa, Tân Phước Khánh, Thuận An Hòa (Lái Thiêu)... Đặc biệt, trận tập kích đồn Cầu Định, đồn Bến Tranh, trận chống địch càn vào Truông Bồng Bông 11 ngày đêm, diệt nhiều tên địch… là những thắng lợi đỉnh cao của nhân dân Bình Dương trong Đông – Xuân 1953 – 1954, phối hợp nhịp nhàng với chiến thắng Điện Biên Phủ, cùng toàn dân buộc quân Pháp chấp nhận thất bại hoàn toàn.

Cuộc kháng chiến chống Pháp kết thúc thắng lợi. Ngày 20/7/1954, thực dân Pháp buộc phải ký kết Hiệp định Genève về Việt Nam và Đông Dương. Chính phủ Pháp và các nước tham dự Hội nghị tuyên bố cam kết tôn trọng chủ quyền, độc lập, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của 3 nước Việt Nam, Lào, Cam pu chia và tuyệt đối không can thiệp vào nội trị của các nước trên. Hiệp định quy định việc ngừng bắn ở Việt Nam và trên toàn chiến trường Đông Dương. Các bên thực hiện đình chiến và di chuyển lực lượng vũ trang về mỗi bên theo giới tuyến quân sự tạm thời là vĩ tuyến 17. Hiệp định cấm việc đưa quân đội, nhân viên quân sự, vũ khí nước ngoài vào Đông Dương. Các nước Đông Dương không được gia nhập các khối liên minh quân sự và không được để các nước khác dùng lãnh thổ của mình để gây lại chiến tranh hoặc phục vụ mục đích xâm lược.Việc thống nhất đất nước Việt Nam sẽ được thực hiện bằng một cuộc tổng tuyển cử vào tháng 7/ 1956. Để tiến tới tổng tuyển cử, hai miền Nam – Bắc Việt Nam sẽ tiến hành hiệp thương từ tháng 7/1955[12]Ngày 13/8/1954, Tỉnh ủy Thủ Biên tổ chức một cuộc mít-tinh lớn với hàng ngàn quần chúng đến dự tại Nhà Nai (chiến khu Đ), khẳng định thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Pháp, của Hiệp định Genève và bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc của Đảng và Mặt trận Việt Minh đối với sự hy sinh to lớn của toàn thể nhân dân và cán bộ trên toàn tỉnh.

Sau 9 năm kháng chiến gian khổ và anh dũng, nhân dân ta đã đánh bại cuộc chiến tranh xâm lược lần thứ hai của thực dân Pháp. Các thế hệ nhân dân Bình Dương, trong đó có thế hệ trẻ, có quyền tự hào vì đã đóng góp hết sức mình vào cuộc kháng chiến anh dũng để bảo vệ độc lập và dân chủ, những thành quả to lớn mà toàn dân ta đã giành được trong cách mạng Tháng Tám. Từ những ngày đầu Nam bộ kháng chiến, thanh niên nam nữ Bình Dương đã cùng toàn dân nêu cao ý chí và quyết tâm chống giặc, tích cực chi viện sức người sức của cho mặt trận Sài Gòn-Gia Định chống Pháp và bảo vệ chính quyền nhân dân tại tỉnh nhà. Thời kỳ cả nước tiến hành kháng chiến chống Pháp, dưới sự lãnh đạo của Đảng và Tỉnh Đoàn Thanh niên cứu quốc, thanh niên Bình Dương luôn xung kích đi đầu trong các phong trào bình dân học vụ, xây dựng đời sống mới , xây dựng xã ấp chiến đấu, tăng gia sản xuất, tòng quân giết giặc. Qua các phong trào này, tuổi trẻ Bình Dương đã ghi vào lịch sử Đoàn, lịch sử của tỉnh những thành tích có tiếng vang trên cả nước: toàn tỉnh đạt thành tích khá trong phong trào bình dân học vụ của Miền Đông Nam bộ, riêng huyện Bến Cát được Xứ Đoàn tặng cờ “Tiền phong diệt giặc dốt”; đó là khu đời sống mới kiểu mẫu ở xã Tân Hiệp; là trận đánh tháp canh cầu bà Kiên bằng lối đánh đặc công (19/3/1948), mà từ đó ngày 19/3 được chọn làm ngày kỷ niệm binh chủng đặc công của quân đội ta; là Đội nữ du kích Thanh Tuyền-đội nữ du kích đầu tiên của Nam bộ; Trung đội nữ tự vệ An Sơn cũng là một trong những đội tự vệ nữ đầu tiên của Nam bộ; là những tiến công quân sự tiêu hao, tiêu diệt địch suốt thời kỳ kháng chiến, những trận đánh phối hợp nhịp nhàng với chiến trường chung để giành thắng lợi quyết định trong chiến dịch đông-xuân 1953-1954, đưa kháng chiến đến ngày toàn thắng.

Cuộc kháng chiến chống Pháp đã kết thúc, nhưng con đường cách mạng giải phóng dân tộc mới đi một nửa. Nhân dân và thanh niên Bình Dương phấn khởi đón mừng hòa bình, đồng thời, chuẩn bị bước vào cuộc đấu tranh cho thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ Việt Nam.
________________________________________
[1] Phong trào sản xuất cứu đói, cứu tế cho đồng bào nghèo, hưởng ứng Tuần lễ vàng, ủng hộ quỹ độc lập, phong trào bình dân học vụ xóa nạn mù chữ....)
[2] Đc Kiều Đắc Thắng là uỷ viên quân sự của Uỷ ban nhân dân lâm thời tỉnh.
[3] . Theo “Mùa thu lịch sử”, Nxb Trẻ Tp HCM - Tháng 11/1996, tr. 95
[4] . Cả nước bầu cử Quốc hội đầu tiên vào ngày 6/1/1946, nhưng riêng tỉnh Thủ Dầu Một bầu cử ngày 25/12/1945 theo chỉ thị ban đầu của TW. Đến gần ngày 25/12, có lệnh dời lại ngày 6/1/1946, nhưng do đã chuẩn bị, đình lại rất khó, cấp uỷ Thủ Dầu Một quyết định tiến hành theo chỉ thị trước. (Theo “Lịch sử Đảng bộ Sông Bé” (Ban Thường vụ Tỉnh uỷ Sông Bé - 1995), T.I, tr. 247; Lịch sử Đảng bộ tỉnh Bình Dương, NXB CTQH, HN-2003, tr 149-150.)
[5] . Lúc bấy giờ, lực lượng vũ trang do Đảng bộ tỉnh nắm được có 800 cán bộ, chiến sĩ với 80 súng trường, 10 súng phun lửa, 1 súng máy, 100 lựu đạn, 5 súng lục.. ( “Lịch sử Đảng bộ Sông Bé - sđd, tr 250)
[6] Theo hồi ký của đ/c Nguyễn Bá Niên, Cựu Tỉnh đoàn trưởng Thanh niên cứu quốc tỉnh Thủ Dầu Một.
[7]  Nhà kiểu mẫu có chuồng heo, chuồng trâu bò riêng, có hố xí cách xa nhà và hợp vệ sinh (có nắp đậy), bếp ăn có lồng bàn chống ruồi, mỗi nhà đều có công sự chống pháo cho người và súc vật, cơ quan có hầm hào chiến đấu.
[8] Theo hồi ký của đc Văn Sáu, cựu Trưởng ban thiếu nhi Tỉnh đoàn Thanh niên cứu quốc Thủ Dầu Một.
[9] Theo hồi ký của đc Trần Thị Hữu, nguyên Chánh án Tòa án nhân dân tỉnh Sông Bé, cựu nữ đội phó Đội nữ du kích Thanh Tuyền.
[10] Tư liệu khai thác từ nhân chứng lịch sử - đc Trần Thị Hữu
[11] . Tháng 5/1953, Chính phủ Pháp cử tướng Na-va sang làm Tổng chỉ huy quân đội viễn chinh Pháp ở Đông Dương
[12] Hồ Sỹ Khoách, Hà Minh Hồng, Võ Văn Sen “Lịch sử Việt Nam 1945-1954”, Nxb Mũi Cà Mau – 1998, tr 140.

 

 Phản hồi

Chưa có phản hồi nào cho bản tin này.

 Gửi phản hồi

Dữ liệu bắt buộc với các trường đánh đấu (*)
Họ và tên (*)  
Email (*)    
Điện thoại
Địa chỉ
Nội dung phản hồi (*)  
Liên Kết
05170511

BAN BIÊN TẬP
Nguyễn Phạm Duy Trang (Trưởng Ban) Trần Thị Diễm Trinh (Phó Ban) Lê Tuấn Anh (Phó Ban)